E.-BẢN PHỤ ĐÍNH VỀ LÀO
Lời giới thiệu: Cho tới nay, nhiều người vẫn còn thắc mắc
là thời điểm của năm 1961, chính quyền của Tổng Thống Ngô Đình Diệm vẫn là một
chính quyền chống Cộng vững mạnh, dù rằng một năm trước đó, trận đánh Ấp Bắc, Định
Tường đã làm rúng động nhiều quốc gia trong thế giới tự do ở Đông Nam Á. Nhận định
vừa kể không có căn cứ. Truyền thông vào giai đoạn đó còn thô sơ và báo chí ở
Miền Nam Việt Nam lúc đó là một nền báo chí bị kiểm duyệt, cho nên những thông
tin cần thiết về tình hình Miền Nam Viêt Nam ở giai đoạn 1959-1961 không được
phổ biến rộng rãi, nhà cầm quyền lười giải thích thậm chí sợ giải thích với dân
chúng. Chính phủ VNCH đã không thể nhìn thấy sức mạnh của một nền thông tin tự
do nên mặc nhiên đã trao cho đối phương một thứ vũ khí lũng đoạn hết sức hữu hiệu.
Đó là xuyên tạc, bóp méo. Ngay cả cuộc đảo chính không thành công do Đại Tá
Nguyễn Chánh Thi, Trung Tá Vương Văn Đông và Thiếu Tá Trần Đình Lan ngày
11-11-1960, các cơ quan tuyên truyền chính phủ cũng chỉ biết tung ra có một luận
điệu duy nhất: Việt Cộng giựt giây. Vì thế người ta không ngạc nhiên cho đến những
năm của thập niên thứ hai của hơn nửa thế kỷ sau, vẫn còn nhiều người thắc mắc
và trách cứ Tổng Thống Kennedy phải chịu trách nhiệm về cái chết của ông Ngô
Đình Diệm chỉ vì ông cương quyết không cho Mỹ đổ quân vào Miền Nam mà không hề
tìm hiểu cái bối cảnh nguy ngập của tình hình quân sự đang bất lợi cho Miền Nam
Việt Nam lúc đó. Nhiều tác giả đem so sánh tình hình an ninh của hai năm 1960
và 1961 với tình hình an ninh của 1970 và 1971 để vội vã kết luận, chính quyền
của Tổng Thống Diệm hay hơn chính quyền của ông Thiệu. Năm 1970, ra khỏi thị xã
Long Khánh 20 cây số là có thể bị phục kích, còn năm 1960, nhiều người còn có
thể lên núi Bạch Mã (Huế) nghỉ hè được. Đúng là như thế, nhưng có ai nghĩ năm
1960, Việt Cộng (lực lượng vũ trang của MTGPMN) còn đang áp dụng chiến thuật
bôn tẩu là thượng sách để bảo toàn lực lượng và để thực hiện một sách lược thôn
tính Miền Nam Việt Nam tinh vi hơn. Còn
năm 1970, Việt Cộng đã có cả một sư đoàn
cơ động và những đơn vị địa phương trong phạm vi tỉnh Long Khánh. Chưa bao giờ
dư luận sùng bái Ngô Tổng Thống đặt ngược lại vấn đề: nếu Tổng Thống Diệm điều
hành chính quyền VNCH ở giai đoạn 1970 và 1971 thì liệu người Saigon
có thể bình an vui vẻ bơi thuyền vào những ngày hè ở Sông La Ngà không?
Lập luận của tôi không phát sinh từ cảm tính. Nếu theo
dõi Bản Phụ Đính Về Lào trong bản phúc trình về tình hình Miền Nam Việt do Lực
Lượng Đặc Nhiệm (Task Force) soạn thảo trình Tổng Thống Kennedy để ông căn cứ
vào đó có những quyết định gấp rút về chính sách viện trợ cho Miền Nam Việt
Nam, an ninh thực tế tại Việt Nam rất mong manh. Sự thất thế của phe quốc gia
thân Tây phương tại Vạn Tượng trong chính phủ Liên Hiệp khiến cho Hoa Thịnh Đốn
lo sợ đây sẽ là bản mẫu cho những quốc gia Đông Nam Á và là một cái đà để cho đảng
Cộng Sản Việt Nam
tiến lên. Bản phụ đính về tình hình Lào dưới đây là văn bản đánh giá được gấp
rút kèm thêm vào bản phúc trình ngày 26 tháng 4 của Lực Lượng Đặc Nhiệm đề nghị
gia tăng viện trợ cho Miền Nam Việt Nam trong đó vấn đề trang thiết bị cho quân
lực VNCH là chủ yếu).
Sau đây là những đoạn chính yếu trong nội dung của Bản Phụ
Đính Về Tình Hình Lào gởi kèm theo phúc trình gởi Tổng Thống John F. Kennedy
ngày 28 tháng 4:
*Vào ngày 28 tháng 4, một bản Phụ Đính về Lào đã được kèm
theo bản phúc trình căn bản,nội dung đi xa hơn đề nghị viện trợ quân sự khiêm tốn
trong bản phúc trình nguyên thủy. Phần lớn sự đánh giá tình hình (an ninh) thuận lý hơn là vì nó được soạn thảo để đáp ứng
những thắc mắc của các thành viên trong phiên họp của Hội Đồng An Ninh Quốc Gia
ngày 27 tháng 4. Trên căn bản chính sách trung lập hóa Lào giúp củng cố cho những
người Cộng Sản (Pathet Lào) vẫn kiểm soát “nguyên trạng” (có nghĩa là những
vùng núi non phía Đông chạy dọc theo con đường xâm nhập quân đội, vũ khí đạn dược
vào Miền Nam Việt Nam), bản Phụ Đính chủ trương gia tăng thêm 2 sư đoàn bộ binh
cho quân lực VNCH. Để nhanh chóng huấn luyện cho quân số này, bản phụ đính đã đề
nghị gia tăng một đoàn huấn luyện viên người Mỹ, cứ mỗi sư đoàn VNCH cần phải
1,600 người, cộng thêm với 400 quân nhân Lực Lượng Đặc Biệt để gia tăng tốc độ
huấn luyện cho lực lượng chống nổi dậy cho quân lực VNCH. Như vậy số quân nhân
Mỹ giữ nhiệm vụ huấn luyện sẽ tăng lên khoảng 3,600 người chưa kể số cố vấn
quân sự cho Phái Bộ MAAG đã được gia tăng từ trước (tổng cộng quân số Mỹ tại
VNCH đã lên tới trên 4,000 người).
Một điều lý thú là trong nội dung bản Phụ Đính, lực lượng
Hoa Kỳ được đề nghị gia tăng như kể trên đã được coi như là một bằng chứng cho
sự bảm đảm là Hoa Kỳ quyết tâm chống lại cuộc xâm lăng Miền Nam Việt Nam của Hà
Nội. Nhưng nếu căn cứ vào những bản dự thảo trước đó, người ta có thể thấy lọt
vào đó có cả dự thảo của tướng Lansdale không được sử dụng nhưng trong đó ông
khuyến cáo rằng một sự cám kết gia tăng quân đội Mỹ ở Miền Nam Việt Nam là một
bảo đảm cho việc Mỹ tiếp tục hỗ trợ VNCH, nhưng ông ta không yêu cầu gia tăng bất
cứ một đơn vị nào cho chính quân lực VNCH (lý do tại sao thì không thấy đề cập).
Thay vào đó, dự thảo phúc trình của Lansdale
chỉ nhấn mạnh đến sự thiệt hại nặng nề về uy tín của Mỹ cũng như sự tín nhiệm của các quốc gia khác ở Đông Nam Á
đối với chúng ta (Mỹ). Các quốc gia này đã từng chứng kiến sự sụp đổ của phe quốc
gia thân Tây phương ở Lào mà Hoa Kỳ không có bất cứ hành động mạnh nào để chứng
tỏ rằng chúng ta muốn vẽ một phòng tuyến chống Cộng Sản ở Đông Nam Á.
Trái ngược hẳn với phúc trình của Lansdale là bản dự thảo
đầu tiên của phúc trình mà cuối cùng được trình lên Tổng Thống. Đây là bản phúc
trình phụ đính của phụ tá quân sự cho Gilpatric, Đại Tá E.F. Black. Chính Black
đã đề nghị gia tăng quân lực VNCH thêm 2 sư đoàn, với mục tiêu là để đương đầu
với sự thẩm nhập quân từ Miền Bắc vào. Black nhấn mạnh thêm rằng Tổng Thống cần
phải quyết định rằng Mỹ không nên bị giới hạn bởi bản Hiệp Định Geneve 1954 (điều
mà Bộ Quốc Phòng từ lâu đã vận động chống lại). Tuy nhiên, bản phúc trình không
đề nghị Hoa Kỳ có bất cứ một cam kết quân sự nào ở Việt Nam. Cho nên sự đề cập đến bản Hiệp
Định Geneve rõ ràng là muốn ám chỉ đến giới hạn quân Mỹ ở Việt Nam là
685 người và đồng thời hàm ý tới các trang thiết bị mới cho VNCH không bị giới
hạn bởi Hiệp Định Geneve 1954. Trong hồ sơ, bản Phụ Đính Về Lào có tới 3 nội
dung: nội dụng đầu tiên của Black, nội dung thứ hai của Lansdale và nội dung thứ
ba là của Black soạn ra lúc đầu được hiệu đính lại. Chính nội dung thứ ba của
Black cuối cùng đã được kèm vào bản phúc
trình của Lực Lượng Đặc Nhiệm được gởi tới văn phòng Tổng Thống.
*Về những chi tiết khác biệt nội dung trong Phụ Đính, có
những điểm chính sau đây:
1.-Nội dung phụ đính nguyên thủy của Đại tá E.F Black: đề
nghị gia tăng quân số (2 sư đoàn) cho VNCH, nhưng không khuyến cáo Hoa Kỳ cần
phải có cam kết quân sự nào với VNCH.
2.-Nội dung phụ đính theo đề nghị của Lansdale
là Hoa Kỳ phải có một cam kết cụ thể về quân sự (gia tăng quân số Mỹ) nhưng lại
không khuyến cáo gia tăng lực lượng VNCH.
3.-Nội dung phụ đính đầu tiên của Black được hiệu đính đề
nghị cả hai: gia tăng quân số cho quân lực VNCH và quân số Mỹ tại Việt Nam
nhưng thay đổi lý do dẫn đến 2 đề nghị này: gia tăng quân số cho VNCH để chống
lại mức xâm nhập từ Miền Bắc và gia tăng quân số Mỹ để nhanh chóng huấn luyện
cho quân lực VNCH chứ không phải là vì lý do chính trị.
(GHI CHÚ CỦA NGƯỜI DỊCH: Nhìn vào những khác biệt về quan
niệm của những viên chức có trách nhiệm soạn thảo chính sách trước khi Mỹ đặt
chân vào Việt Nam khác nhau, thậm chí bị giới hạn bởi cách nhìn vấn đề, người
ta có thể cho rằng McNama, Gilpatric, McGeorge Bundy hay Rostow tìm cách ảnh hưởng
đến quyết định của Tổng Thống John F. Kennedy. Những ai chưa bao giờ tiếp cận với
những thủ tục soạn thảo chính sách có thể ngạc nhiên vì những chuyện phức tạp
này, nhưng giới có thẩm quyền thì cho rằng sự khác biệt là một điều cần và cuối
cùng Tổng Thống sẽ có những suy nghĩ riêng cũng như những cố vấn khác để phân
và tổng hợp dẫn tới quyết định cuối cùng. Số báo tới, chúng tôi sẽ đề cập đến
việc duyệt xét phúc trình của Tổng Thống Kennedy-ND) (V.H.T)
(Còn tiếp)